Trang

Thứ Hai, 26 tháng 6, 2017

Thủ tục xin giấy chứng nhận đầu tư và thành lập công ty nhập khẩu và phân phối thuốc (thuốc thú y) của thương nhân nước ngoài.

Theo Quyết định 10/2007/QĐ-BTM của Bộ Thương mại Công bố lộ trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa, đối với thốc thú y các doanh nghiệp được phép nhập khẩu mặt hàng này từ ngày 01/01/2009. Do đó hiện nay các doanh nghiệp muốn nhập khẩu thuốc thú y đã có thể thực hiện kinh doanh hoạt động này.

Theo Phụ Lục 4 Luật Đầu tư 2014, kinh doanh thuốc thú y là một ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Theo quy định của Pháp lệnh thú y 2004, điều kiện kinh doanh thuốc thú y gồm có:
–  Điều kiện nhập khẩu thuốc thú y.
+ Khi nhập khẩu thuốc thú y có trong Danh mục thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam thì tổ chức, cá nhân được nhập khẩu và lưu hành bình thường.
+ Khi nhập khẩu thuốc thú y chưa có trong Danh mục thuốc thú y được phép lưu hành tại VN phải đáp ứng các điều kiện sau:
Được cơ quan quản lý nhà nước về thú y thuộc Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Thủy sản cho phép.
Có hồ sơ xin nhập khẩu, bao gồm: đơn xin nhập khẩu, giấy chứng nhận thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP) của cơ sở sản xuất, bản tóm tắt đặc tính, hiệu lực, độ an toàn của sản phẩm, phiếu phân tích, giấy chứng nhận được phép lưu hành của cơ quan có thẩm quyền của nước sản xuất.
Mẫu thuốc thú y có đủ nhãn thành phẩm, nhãn trung gian, bao bì sản phẩm, số lượng thuốc để cơ quan kiểm nghiệm thuốc thú y.
+ Trường hợp nhập khẩu vắc xin, vi sinh vật phải có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Cục thú y, cục quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thủy sản.
–  Điều kiện kinh doanh thuốc thú y:
+  Có đăng ký kinh doanh thuốc thú y.
+  Có địa điểm, cơ sở vật chất, kỹ thuật để bảo quản, bán hàng đạt tiêu chuẩn vệ sinh thú y
+  Người quản lý, người trực tiếp bán thuốc thú y phải có chứng chỉ hành nghề thú y.
+  Có địa điểm kinh doanh cố định.
+  Cửa hàng, nơi bày bán, kho chứa có đủ diện tích cần thiết và có kết cấu phù hợp để không làm ảnh hướng tới chất lượng thuốc.
+  Cửa hàng phải có khu vực riêng bày bán các loại hàng hóa khác nhau được phép kinh doanh, có đủ phương tiện để bày bán, bảo quản.
+   Có đủ các thiết bị kỹ thuật để bảo quản hàng hóa như quạt thông gió, tủ lạnh hoặc kho lạnh để bảo quản vắc xin, chế phẩm sinh học; ẩm kế, nhiệt kế để kiểm tra điều kiện bảo quản.
+  Hoạt động kinh doanh không làm ảnh hưởng xấu tới môi trường.
+  Chỉ được kinh doanh những loại thuốc thú y có trong Danh mục thuốc thú y được phép lưu hành tại VN, những loại chưa có trong Danh mục nhưng được cấp phép lưu hành.
Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (GCN DKDT) cho nhà đầu tư nước ngoài.
– Hình thức đầu tư: thành lập tổ chức kinh tế hoặc góp vốn, mua cổ phần, phân vốn góp trong doanh nghiệp Việt Nam.
Trường hợp 1: Đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế. Để thành lập được doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và đưa doanh nghiệp đi vào hoạt động, nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước.
+ Hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, gồm có:
Văn bản đề nghị thực hiện dự án đâu tư;
Bản sao chứng minh nhân dân, thẻ căn cước hoặc hộ chiếu đối với nhà đầu tư là cá nhân
Đề xuất dự án đầu tư bao gồm các nội dung: nhà đầu tư thực hiện dự án, mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư, vốn đầu tư và phương án huy động vốn, địa điểm, thời hạn, tiến độ đầu tư, nhu cầu về lao động, đề xuất hưởng ưu đãi đầu tư, đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án;
Bản sao một trong các tài liệu sau: báo cáo tài chính 02 năm gần nhất của nhà đầu tư; cam kết hỗ trợ tài chính của công ty mẹ; cam kết hỗ trợ tài chính của tổ chức tài chính; bảo lãnh về năng lực tài chính của nhà đầu tư; tài liệu thuyết minh năng lực tài chính của nhà đầu tư.
Đề xuất nhu cầu sử dụng đất; trường hợp dự án không đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì nộp bản sao thỏa thuận thuê địa điểm hoặc tài liệu khác xác nhận nhà đầu tư có quyền sử dụng địa điểm để thực hiện dự án đầu tư.
+  Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Sở kế hoạch và đầu tư nơi nhà đầu tư đặt hoặc dự kiến đặt trụ sở chính hoặc văn phòng điều hành có thẩm quyền tiếp nhận và cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
+  Thời gian giải quyết.
Trong thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ, cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư và nêu rõ lý do.
Trường hợp 2: Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế. Trường hợp này nhà đầu tư không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, chỉ cần thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế.
+  Hồ sơ đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp gồm có:
Văn bản đăng ký góp vồn, mua cổ phần, phần vốn góp: thông tin về tổ chức kinh tế mà nhà đầu tư nước ngoài dự kiến góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp; lỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư sau khi góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp.
Bản sao CMND, thẻ căn cước hoặc hộ chiếu đối với nhà đầu tư là cá nhân; bản sao Giấy chứng nhận thành lập hoặc tài liệu tương đương đối với nhà đầu tư là tổ chức.
+   Thẩm quyền giải quyết.
Sở Kế hoạch và đầu tư nơi tổ chức kinh tế đặt trụ sở chính.
+   Thời gian giải quyết.
Trong thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Sở kế hoạch và đầu tư xem xét việc đáp ứng điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài và thông báo cho nhà đầu tư.
Thành lập doanh nghiệp.
Việc thành lập doanh nghiệp được đặt ra trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế (thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài). Để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, nhà đầu tư phải được cấp GCN DKDT trước, sau đó mới chuẩn bị hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Sau khi doanh nghiệp được thành lập, phải tiến hành làm hồ sơ đăng ký nhập khẩu và lưu hành thuốc thú y.
Hãy liên hệ công ty ANT Lawyers qua hòm thư điện tử luatsu@antlawyers.com hoặc số Hotline: (04) 66737711 để được tư vấn

Thứ Hai, 19 tháng 6, 2017

Đăng ký Sở hữu trí tuê đối với Logo

Logo là biểu tượng, dấu hiệu nhận diện của một đối tượng và dùng để phân biệt với đối tượng khác. Các đơn vị sở hữu logo đều rất quan tâm đến việc đăng ký sở hữu trí tuệ, bảo hộ cho logo của mình. ANT Lawyers xin giới thiệu đến Quý khách hàng dịch vụ đăng ký sở hữu trí tuệ đối với logo.
Logo có 2 hình thức bảo hộ: quyền tác giả đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng và bảo hộ nhãn hiểu.
  1. Đăng ký quyền tác giả đối với logo.
Khi lựa chọn phương thức bảo hộ logo bằng phương thức đăng ký bản quyền tác giả, hình thức phù hợp với logo là tác phẩm mỹ thuật ứng dụng theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ.
Hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả đối với logo gồm có:
  • Tờ khai đăng ký bản quyền tác giả;
  • 02 mẫu logo cần đăng ký bản quyền tác giả;
  • Giấy ủy quyền (nếu người nộp hồ sơ là người được ủy quyền);
  • Tài liệu chứng minh quyền nộp hồ sơ;
  • Văn bản đồng ý của các đồng tác giả (nếu tác phẩm có nhiều tác giả);
  • Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu (nếu quyền tác giả, quyền liên quan thuộc sở hữu chung).
Cơ quan có thẩm quyền giải quyết: Cục Bản quyền tác giả – Bộ văn hóa, thể thao và du lịch.
Thời hạn giải quyết hồ sơ: 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.
  1. Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu đối với logo.
Hồ sơ đăng ký nhãn hiệu gồm có:
  • Tờ khai đăng ký nhãn hiệu;
  • Mẫu nhãn hiệu (mẫu logo);
  • Giấy ủy quyền (nếu nộp đơn thông qua đại diện);
  • Chứng từ nộp phí, lệ phí.
Khi đăng ký nhãn hiệu cho logo, người nộp đơn cần xác định rõ nhóm sản phẩm, dịch vụ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu theo Bảng phân loại quốc tế các hàng hóa, dịch vụ Ni – xơ 10.
Cơ quan có thẩm quyền giải quyết: Cục sở hữu trí tuệ – Bộ khoa học và công nghệ.
Thời hạn giải quyết hồ sơ: từ 10 đến 12 tháng kể từ ngày nộp đơn (trường hợp phải sửa đổi bổ sung đơn hoặc bị phản đối sẽ kéo dài hơn).
  1. ANT Lawyers hộ trợ khách hàng.
– Soạn thảo hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan/đăng ký nhãn hiệu;
– Đại diện nộp hồ sơ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
– Đại diện theo dõi quy trình xử lý đơn và thông báo kết quả đến khách hàng;
– Đại diện soạn thảo các công văn, giải trình, trả lời cơ quan giải quyết hồ sơ;
– Đại diện nhận kết quả và bàn giao kết quả.

Thứ Sáu, 16 tháng 6, 2017

Thủ tục cần làm khi xin cấp bản sao từ bản chính.

Mỗi người đối với các giấy tờ nhân thân của mình đều có nhu cầu lưu giữ một bản sao có giá trị pháp lý. Pháp luật Việt Nam đã có Nghị định số 23/2015/NĐ-CP của Chính phủ về thủ tục xin cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch. Trong bài viết này, ANT Lawyers xin giới thiệu về thủ tục xin cấp bản sao từ sổ gốc tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thế nào là bản sao, sổ gốc, giá trị pháp lý của bản sao được cấp từ sổ gốc.
Bản sao là bản chụp từ bản chính hoặc bản đánh máy có nội dung đầy đủ, chính xác như nội dung ghi trong sổ gốc.
Sổ gốc là sổ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền lập ra khi thực hiện việc cấp bản chính theo quy định của pháp luật, trong đó có nội dung đầy đủ, chính xác như bản chính mà cơ quan, tổ chức đó đã cấp.
Cấp bản sao từ sổ gốc là việc cơ quan, tổ chức đang quản lý sổ gốc, căn cứ vào sổ gốc để cấp bản sao. Bản sao từ sổ gốc có nội dung đầy đủ, chính xác như nội dung ghi trong sổ gốc.
Về giá trị pháp lý, bản sao được cấp từ sổ gốc có giá trị sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật quy định phải nộp bản gốc.
Những ai được cấp bản sao từ sổ gốc?
Cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu cấp bản sao từ gốc bao gồm:
– Cá nhân, tổ chức được cấp bản chính.
– Người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền của cá nhân, tổ chức được cấp bản chính.
– Cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột, người thừa kế khác của người được cấp bản chính trong trường hợp người đó đã chết.
Với quy định này, tổ chức, cá nhân cần xin cấp bản sao từ sổ gốc tại cơ quan có thẩm quyền lưu giữ có thể ủy quyền cho một cá nhân, tổ chức khác thực hiện thay mình.
– Người yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc xuất trình bản chính hoặc bản sao có chứng thực Giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiều còn giá trị sử dụng để kiểm tra.
– Trường hợp người yêu cầu là người được ủy quyền thì phải xuất trình giấy ủy quyền.
– Cơ quan, tổ chức căn cứ vào sổ gốc để cấp bản sao cho người yêu cầu, nội dung bản sao phải ghi theo đúng nội dung đã ghi trong sổ gốc. Trường hợp không còn lưu trữ sổ gốc hoặc trong sổ gốc không có thông tin về nội dung yêu cầu cấp bản sao thì cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho người yêu cầu.
Thời gian thực hiện.
Thời gian thực hiện yêu cầu xin cấp bản sao từ sổ gốc phải được đảm bảo ngay trong ngày cơ quan, tổ chức tiếp nhận yêu cầu hoặc trong ngày làm việc tiếp theo, nếu tiếp nhận yêu cầu sau 15 giờ.
Cấp bản sao từ sổ gốc, thế nào là bản sao, sổ gốc là gì, thủ tục cấp bản sao sổ gốc.

Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

Nhà thầu nước ngoài xin giấy phép hoạt động xây dựng thay giấy phép nhà thầu.


Nhà thầu nước ngoài trúng thầu tại Việt Nam đã trải qua quá trình đánh giá, chọn lọc, dù là vốn nhà nước hay nguồn vốn  khác. Tuy nhiên, theo quy định họ chỉ được phép hoạt động xây dựng (HĐXD) tại Việt Nam sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy phép HĐXD. Nghị định 59/2015/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng và thông tư 14/2016/TT-BXD chính thức có hiệu lực từ ngày 15/08/2016 hướng dẫn về cấp Giấy phép hoạt động xây dựng và quản lý nhà thầu  nước  ngoài  hoạt động  xây  dựng  tại  Việt  Nam  là  hai văn  bản  pháp luật chính quy định vềthủ tục cấp phép này.

Tuy nhiên nhìn vào hệ thống các quy định pháp luật về quản lý nhà thầu nước ngoài hoạt động xây dựng tại Việt Nam ta thấy trước khi đưa ra hình thức cấp phép “Giấy phép hoạt động xây dựng”  đã từng trải qua hoạt động cấp “Giấy phép thầu”. Khi tìm hiểu về Giấy phép hoạt động xây dựng và Giấy phép thầu của nhà thầu nước ngoài ta thấy hai khái niệm, cũng như quy trình chuẩn bị hồ sơ xin cấp phép gần như không có sự khác biệt.
Sự phát triển của các dự án bất động sản và các quy định mới của Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng và Luật Đầu tư đã tạo điều kiện cho các nhà thầu nước ngoài thực hiện đấu thầu và hoạt động tại Việt Nam. Nhà thầu nước ngoài có thể là tổng thầu, nhà thầu chính, nhà thầu liên danh hoặc nhà thầu phụ. Tuy nhiên, khác với nhà thầu trong nước, nhà thầu nước ngoài phải được cấp Giấy phép hoạt động xây dựng theo từng hợp đồng sau  khi trúng thầu. Việc thay đổi quy định từ cấp Giấy phép nhà thầu sang Giấy phép hoạt động xây dựng để góp phần tạo nên sự thống nhất về khái niệm pháp lý giữa các văn bản cùng điều chỉnh về việc cấp phép cho các nhà thầu nước ngoài hoạt động xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam, hạn chế sự khác biệt không cần thiết gây chồng chéo, khó khăn cho các chủ thể khi thực hiện hoạt động giải thích và áp dụng pháp luật.
Việc điều chỉnh tên gọi của giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp cho nhà thầu nước ngoài theo từng hợp đồng sau khi trúng thầu hoặc được lựa chọn thầu từ “Giấy phép thầu” sang “Giấy phép hoạt động xây dựng” là để tăng tính phù hợp giữa tên gọi và bản chất của hoạt động được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép của dành cho nhà thầu. Xem xét thời điểm nhà thầu nước ngoài được cấp phép, đó là sau khi trúng thầu hoặc được lựa chọn thầu. Như
vậy nếu chỉ gọi chung chung là “giấy phép thầu” thì chưa thể hiện rõ ràng vai trò của nhà thầu với hợp đồng/dự án xây dựng mà họ đã và đang tham gia.
Việc thay đổi quy định về cấp phép hoạt động xây dựng cho nhà thầu nước ngoài có hoạt động tại Việt Nam góp phần hạn chế những tình huống hiểu sai bản chất của quy định pháp luật khi nghe qua tên gọi mà không tìm hiểu kỹ nội dung của quy định đó. Tên gọi rõ ràng và thể hiện đúng nhất  bản  chất  của  quy  trình  cấp  phép  sẽ  tăng  tính  minh  bạch  hơn  cho  các  quy định  pháp  luật  nói chung, và các quy định về quy trình cấp phép cho các nhà thầu nước ngoài nói riêng. Điều này cũng góp phần thu hút ngày càng nhiều các nhà thầu nước ngoài tham gia vào các dự án xây dựng trong nước, nâng cao chất lượng công nghệ, trang thiết bị cũng như tăng ưu thế về thời gian hoàn thiện cho các công trình xây dựng trong tương lai.

Thứ Ba, 13 tháng 6, 2017

Bước tiến trong việc bảo vệ cổ đông nhỏ

Cổ đông nhỏ chiếm đa số trong bất cứ thị trường nào, kể cả thị trường chứng khoán tập trung cũng như thị trường phi tập trung… Với chút tiền nhỏ nhoi, họ tham gia đầu tư vào các công ty cổ phần với ước mơ làm giàu. Nhưng trước khi đạt được ước mơ đó, họ phải đối diện ngay với vô vàn bất lợi từ nhiều phía.
Ít vốn, họ có ít quyền và tiếng nói ít trọng lượng trong hoạt động điều hành công ty. Họ bị chèn ép và buộc phải cuốn theo những kế hoạch kinh doanh đã được sắp đặt trước của các cổ đông lớn.
Nhà đầu tư nhỏ tiếp đến là nạn nhân của những quản trị viên – những người có cơ hội để vun vén cho lợi ích cá nhân mà không quan tâm đến hoạt động của công ty. Nhà đầu tư nhỏ vì thế luôn ở thế yếu, họ là những đối tượng được pháp luật doanh nghiệp ưu tiên bảo vệ.
Luật Doanh nghiệp cũng quy định cơ chế bảo vệ các cổ đông nhỏ như trên, nhưng đáng ngạc nhiên là Luật Doanh nghiệp lại dường như quên trao cho cổ đông công ty cổ phần quyền khởi kiện các cán bộ quản lý.
Trong các quyền của cổ đông theo Luật Doanh nghiệp, không hề có quy định nào về quyền khởi kiện của cổ đông. Có quan điểm cho rằng Luật Doanh nghiệp dù không minh thị quyền khởi kiện cho cổ đông, nhưng đã quy định nghĩa vụ tận tâm, cẩn trọng, trung thực và trung thành của các cán bộ quản lý công ty, do đó, khi cán bộ quản lý có vi phạm, cổ đông vẫn đương nhiên có quyền khởi kiện họ tại tòa án.
Dù sao, việc không nói rõ quyền khởi kiện các cán bộ quản lý của cổ đông (trong khi cho phép thành viên công ty TNHH khởi cán bộ quản lý!) vẫn là một thiếu sót của Luật Doanh nghiệp.
Trong bối cảnh ban kiểm soát hoạt động yếu kém như hiện nay và cổ đông không được quyền khởi kiện các cán bộ quản lý, quyền lực của họ hầu như không bị kiềm tỏa, dẫn đến tình trạng chung là coi thường quyền lợi của công ty và cổ đông mà chỉ lo vun vén cho lợi ích cá nhân.
Nghị định 102 – một bước tiến trong việc bảo vệ cổ đông nhỏ…
Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 1-10-2010 có thể coi là một bước tiến lớn trong việc bảo vệ các cổ đông nhỏ khi đã dành cho họ quyền khởi kiện các cán bộ quản lý khi có vi phạm trong điều hành công ty.
Nghị định 102 thể hiện sự quan tâm của nhà làm luật đến việc bảo vệ cổ đông nhỏ bằng việc bổ sung một cơ chế bảo vệ mà Luật Doanh nghiệp đã quên. Nó khẳng định rõ ràng cơ sở pháp lý để cổ đông khởi kiện các cán bộ quản lý vì lợi ích của mình hoặc lợi ích của công ty. Nghị định này còn răn đe các cán bộ quản lý và buộc họ phải ưu tiên cho lợi ích của công ty cũng như những hậu quả khi họ vi phạm các nghĩa vụ của mình.
… Nhưng vẫn còn đó sự nửa vời
Chỉ sau 15 ngày nếu ban kiểm soát không trả lời bằng văn bản hoặc không tiến hành khởi kiện hoặc công ty không có ban kiểm soát thì cổ đông mới được quyền trực tiếp khởi kiện.Nghị định 102 chỉ cho phép cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong sáu tháng mới có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu ban kiểm soát khởi kiện (trong khi thành viên công ty TNHH không bị giới hạn tỷ lệ vốn góp tối thiểu này).
Trước hết, nói về thời hạn 15 ngày thông báo cho ban kiểm soát, đây có thể là quy định lợi bất cập hại. Trong 15 ngày này, các thông tin mà cổ đông cung cấp cho ban kiểm soát có thể bị rò rỉ cho các cán bộ quản lý liên quan. 15 ngày đó chẳng khác nào thời hạn để “đánh động” cho cán bộ quản lý để tạo điều kiện cho họ xóa bỏ chứng cứ, gây khó khăn cho việc khởi kiện của cổ đông. Theo chúng tôi, nên dành cho cổ đông quyền kiện thẳng ra tòa án mà không cần thông qua ban kiểm soát.
Tuy nhiên, quan trọng hơn là việc hạn chế đối tượng khởi kiện – tức là cổ đông nắm giữ dưới 1% hoặc nắm 1% nhưng không đủ sáu tháng liên tục sẽ không có quyền này. Có lẽ đây là sự nửa vời của Nghị định 102.
Hơn nữa, các cổ đông nhỏ – đối tượng chiếm đa số trong doanh nghiệp – mới là đối tượng cần được bảo vệ. Cơ sở nào để Nghị định 102 lại tước quyền của cổ đông nắm dưới 1% cổ phần. Tại sao lại có sự phân biệt đối xử vô lý giữa các cổ đông như vậy?
Chúng tôi cho rằng, để xem xét vấn đề này, cần xuất phát từ nghĩa vụ của các cán bộ quản lý. Nghĩa vụ tận tâm, cẩn trọng buộc quản trị viên phải điều hành doanh nghiệp được giao một cách tận tâm và cẩn thận như điều hành chính doanh nghiệp của mình. Nghĩa vụ trung thực và trung thành buộc quản trị viên phải công khai lợi ích liên quan đến doanh nghiệp và tách bạch các lợi ích cá nhân và lợi ích của doanh nghiệp.
Hơn nữa, khi theo đuổi một vụ kiện, cổ đông phải tự chịu các chi phí liên quan như thù lao luật sư, án phí…Điều này là rào cản kinh tế cho các cổ đông tâm huyết theo đuổi vụ kiện. Nên chăng, cần có quy định buộc bên thua kiện – tức là các cán bộ quản lý có sai phạm phải hoàn trả lại các chi phí mà nhà đầu tư đã bỏ ra để theo đuổi vụ kiện?
Điều này là hợp lý vì nếu khởi kiện không có cơ sở, cổ đông đã bị tòa án bác yêu cầu, còn khi tòa án chấp nhận yêu cầu của họ thì bản án của tòa án minh chứng rõ ràng vi phạm của cán bộ quản lý và họ phải chịu chi phí cho các vi phạm này. Nghị định 102 cũng không đề cập đến vấn đề này
ANT Lawyers là công ty luật cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý tại Việt Nam và hỗ trợ khách hàng Việt Nam cho các vụ việc tại các nước trong mạng lưới liên kết hơn 150 nước.
Hãy liên hệ công ty luật ANT Lawyers qua hòm thư điện tử luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn.

Hợp đồng thương mại là gì ?

Trong Luật thương mại Việt Nam không có khái niệm Hợp đồng thương mại, nhưng có thể hiểu Hợp đồng thương mại là hình thức pháp lý của hành vi thương mại, là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên (ít nhất một trong các bên phải là thương nhân hoặc các chủ thể có tư cách thương nhân) nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động thương mại.
Nội dung của hợp đồng thương mại nói riêng và hợp đồng nói chung là tổng hợp các điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận, các điều khoản này xác định những quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản của hợp đồng thương mại là nội dung của hợp đồng thương mại là hoạt động thương mại. Mỗi loại hợp đồng có những quy định nhất định về các điều khoản cơ bản. Ví dụ : Đối với hợp đồng mua bán thì điều khoản cơ bản bao gồm đối tượng và giá cả.
Pháp luật đề cao sự thỏa thuận giữa các bên giao kết, tuy nhiên nội dung của hợp đồng phải tuân theo những quy định của pháp luật hợp đồng nói chung, được quy định tại BLDS 2005. Loại trừ những điều khoản của pháp luật có nội dung mang tính bắt buộc, các bên có thể thỏa thuận với nhau những nội dung khác với nội dung quy định trong pháp luật. Điều 402 BLDS 2005 quy định tùy theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về những nội dung sau đây :
  • Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm .
  • Số lượng, chất lượng
  • Giá, phương thức thanh toán
  • Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng
  • Quyền , nghĩa vụ của các bên
  • Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
  • Phạt vi phạm hợp đồng
  • Các nội dung khác
Tùy theo tính chất của từng loại hợp đồng các bên có thể thỏa thuận hay không thỏa thuận tất cả các điều ghi trên. Các bên cũng có thể bổ sung thêm vào hợp đồng những điều khoản không có quy định nhưng các bên cảm thấy không cần thiết.
Ngoài ra, để làm rõ nội dung của hợp đồng, có sự bổ sung bởi phụ lục hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng , nhưng nội dung của phụ lục không được trái với hợp đồng. Trường hợpphụ lục có điều khoản trái với nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không cóhiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điềukhoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi
Nguồn của pháp luật Hợp đồng gồm các loại sau: 
  •    Các văn bản pháp luật liên quan đến hợp đồng
  •    Các nghị quyết, hướng dẫn, tổng kết của tòa án nhân dân tối cao
  •    Thói quen và tập quán thương mại
.Trường hợp không có luật, tiền lệ, thói quen thì áp dụng tập quán thương mại, tức là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại.
Hãy liên hệ với ANT Lawyers để được tư vấn chi tiết, theo địa chỉ Email: luatsu@antlawyers.com, hoặc số điện thoại văn phòng trong giờ hành chính.

Thứ Hai, 12 tháng 6, 2017

Thời gian nộp gia hạn văn bằng bảo hộ nhãn hiệu


Theo quy định pháp luật Sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, tuy nhiên để được pháp luật bảo hộ thì chủ sở hữu nhãn hiệu cần thực hiện xin cấp văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu đó. Khi chủ thể đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu, chủ thể có quyền độc quyền gắn nhãn hiệu trên sản phẩm và dịch vụ của mình, có quyền cho người khác sử dụng thông qua hợp đồng li-xăng nhãn hiệu, có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu, có quyền ngăn chặn bất kỳ bên thứ 3 nào có hành vi vi phạm việc sử dụng nhãn hiệu.
Tuy nhiên, hiệu lực của nhãn hiệu được tính kể từ ngày cấp đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn. Khi hết thời hạn đó, chủ văn bằng phải làm thủ tục gia hạn văn bằng để có thể tiếp tục là chủ sở hữu của nhãn hiệu đó. Vấn đề quan trọng mà chủ văn bằng cần quan tâm đó là thời hạn để nộp đơn gia hạn văn bằng theo đúng quy định của pháp luật.
Theo quy định pháp luật Sở hữu trí tuệ, thời hạn nộp gia hạn văn bằng bảo hộ nhãn hiệu là trước và sau 06 tháng kể từ ngày văn bằng bảo hộ hết hiệu lực. Trường hợp nộp trước 06 tháng kể từ ngày văn bằng bảo hộ hết hiệu lực thì chủ sở hữu nhãn hiệu chỉ phải nộp lệ phí gia hạn để duy trì bảo hộ nhãn hiệu. Nhưng nộp đơn sau 06 tháng kể từ ngày văn bằng bảo hộ hết hạn được coi là gia hạn muộn văn bằng bảo hộ và chủ sở hữu phải nộp lệ phí gia hạn cộng với tiền phạt những tháng nộp muộn đó (theo quy định là 10% lê phí gia hạn cho mỗi tháng nộp muộn).
Thủ tục xin gia hạn văn bằng bảo hộ nhãn hiệu:
  • Tờ khai yêu cầu gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ;
  • Bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (trường hợp yêu cầu ghi nhận việc gia hạn vào Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu);
  • Giấy uỷ quyền (trường hợp nộp đơn thông qua đại diện sở hữu trí tuệ);
  • Chứng từ nộp lệ phí.
Với đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, ANT Lawyers sẽ hỗ trợ quý khách trong việc gia hạn văn bằng bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam.

Thứ Ba, 6 tháng 6, 2017

Thủ tục phản đối việc đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam


 1.Thời hạn yêu cầu phản đối đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam
Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, trong quá trình thẩm định đơn đăng ký nhãn hiệu, tính từ ngày đơn đăng ký nhãn hiệu được công bố công khai trên công báo của Cục Sở hữu trí tuệ cho đến trước ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, bất cứ bên thứ ba nào cũng có quyền gửi yêu cầu phản đối bảo hộ Nhãn hiệu tới Cục Sở hữu trí tuệ.
2.Điều kiện để phản đối bảo hộ nhãn hiệu
Yêu cầu phản đối của cá nhân, tổ chức nước ngoài không được phép nộp trực tiếp tại Cục Sở hữu trí tuệ mà phải ủy quyền nộp thông qua một Tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp hợp pháp tại Việt Nam dựa trên ủy quyền.
3.Hồ sơ
  • 01 Power of attorney (POA);
  • Các tài liệu và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu phản đối; (ANT Lawyers sẽ hỗ trợ quý khách chuẩn bị các chứng cứ và tài liệu đối với từng vụ việc cụ thể)
  • Tờ khai phản đối bảo hộ (02 bản theo mẫu);
  • Hóa đơn phí, lệ phí.
4. Thủ tục phản đối bảo hộ nhãn hiệu
Sau khi nhận được yêu cầu phản đối bảo hộ dưới dạng văn bản, Cục sở hữu trí tuệ sẽ xem xét, chuyển nội dung yêu cầu phản đối này tới người nộp đơn và đưa ra khoảng thời gian 01 tháng để người nộp đơn trả lời đưa ra ý kiến, lập luận của mình về yêu cầu phản đối. Sau khi nhận được phản hồi từ người nộp đơn (trường hợp người nộp đơn có phản hồi),
Cục sở hữu trí tuệ sẽ thông báo với người phản đối và đưa ra khoảng thời gian 01 tháng để người phán đối đưa ra phản hồi và ý kiến của mình.
Nếu căn cứ phản đối đã đủ rõ ràng và cụ thể, Cục sở hữu trí tuệ có thể đưa ra kết luận ngay sau khi đã xem xét yêu cầu phản đối mà không cần gửi nội dung phản đối đó cho người nộp đơn.
Cục sở hữu trí tuệ cũng có thể tổ chức buổi đối chất giữa người nộp đơn và người phản đối (dựa trên yêu cầu của hai bên) để làm rõ các vấn đề nếu thấy cần thiết.
Dựa trên việc xem xét các căn cứ được đưa ra bởi hai bên, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ đưa ra quyết định chấp nhận hoặc từ chối yêu cầu phản đối đăng ký nhãn hiệu.

Thứ Hai, 5 tháng 6, 2017

Dịch vụ tư vấn chia, tách doanh nghiệp


Khi doanh nghiệp hoạt động lớn mạnh hoặc vì một số nguyên nhân các nhà đầu tư có thể quyết định tách Doanh nghiệp thành một hoặc nhiều doanh nghiệp cùng loại để hoạt động độc lập như một doanh nghiệp mới. Việc tách doanh nghiệp được quy định cho hai loại hình Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần, bằng cách chuyển một phần tài sản của Công ty hiện có (“Công ty bị tách”) để thành lập một hoặc một số Công ty mới cùng loại hình (“Công ty được tách”); chuyển một phần quyền và nghĩa vụ của Công ty bị tách sang Công ty được tách mà không làm chấm dứt tồn tại của Công ty bị tách.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có nhu cầu điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư chia, tách doanh nghiệp cũng thực hiện theo quy trình dưới đây, theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư.
Thủ tục tách doanh nghiệp được quy định như sau:
  • Bước 1: Công ty bị tách tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông/Hội đồng thành viên thông qua quyết định tách công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ Công ty. Quyết định tách Công ty phải được gửi đến tất cả các chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ thông qua.
  • Bước 2: Công ty được tách tiến hành họp các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông để thông qua Điều lệ, bầu hoặc bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên/Chủ tịch Hội đồng quản trị/Chủ tịch Công ty, Giám đốc/Tổng giám đốc và tiến hành đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Sau khi đăng ký kinh doanh, công ty bị tách và công ty được tách phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị tách, trừ trường hợp công ty bị tách, công ty mới thành lập, chủ nợ, khách hàng và người lao động của công ty bị tách có thoả thuận khác.
ANT Lawyers hỗ trợ khách hàng với các công việc sau:
+ Tư vấn miễn phí các quy định của pháp luật và quy trình tiến hành thủ tục tách doanh nghiệp;
+ Soạn thảo hồ sơ chi tiết về việc tách Doanh nghiệp của Công ty bị tách và Công ty được tách theo đúng quy định của pháp luật.
+ Đại diện khách hàng theo ủy quyền nộp hồ sơ đăng ký tách Doanh nghiệp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền; theo dõi quá trình xử lý hồ sơ và thông báo cho khách hàng các yêu cầu hoặc sửa đổi, bổ sung (nếu có) của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
+ Đại diện khách hàng theo ủy quyền nhận Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty được tách tại Sở kế hoạch và đầu tư nơi Doanh nghiệp đặt trụ sở chính;
+ Đại diện khách hàng theo ủy quyền làm thủ tục khắc dấu pháp nhân và nhận dấu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (nếu thay đổi dấu pháp nhân);
Ngoài ra, ANT Lawyers sẽ thường xuyên cung cấp cho Doanh nghiệp các bản tin văn bản pháp luật mới nhất và giải đáp các thắc mắc của Doanh nghiệp trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp qua email, fax hoặc điện thoại.

Việt Nam Nới Lỏng Quy Định về Casino và Bán Vé Cho Người Việt


Ngày 16 tháng 01 năm 2017, Việt Nam đã ban hành nghị định 03/2017/NĐ-CP quy định về kinh doanh casino.

Quy định mới bao gồm cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư dự án khu dịch vụ, du lịch, và vui chơi tổng hợp có casino, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, và với điểm đáng chú ý cho phép thí điểm ba năm việc người Việt Nam chơi tại điểm kinh doanh casino.
Việc đầu tư vào Việt Nam trong lĩnh vực kinh doanh casino là điều các nhà đầu tư nước ngoài mong mỏi nhưng chỉ khi nhà nước Việt Nam cho phép người Việt được vào chơi casino mới thực sự khuyến khích họ đầu tư vào Việt Nam xây dựng các dự án cung cấp dịch vụ, du lịch và vui chơi tổng hợp đẳng cấp có kinh doanh casino để phục vụ nhu cầu giải trí ngày càng tăng cao của người dân Việt Nam, và thu hút khách du lịch quốc tế kết hợp nghỉ dưỡng.
1. Người Việt Nam chơi tại điểm kinh doanh casino thí điểm ba năm
Người Việt Nam chơi tại điểm kinh doanh casino phải đủ 18 tuổi, thu nhập thường xuyên từ 10 triệu đồng/tháng trở lên, và không có quan hệ gia đình thân thích với doanh nghiệp kinh doanh casino.  Vé vào chơi casino là 1 triệu đồng/24 giờ liên tục/người hoặc 25 triệu đồng/tháng/người
2. Kinh doanh casino
Doanh nghiệp kinh doanh casino chỉ được kinh doanh casino tại một địa điểm được cho phép và phải được cách ly với những khu vực kinh doanh khác của doanh nghiệp casino.
3. Cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh casino
Nhà đầu tư phải có dự án khu dịch vụ, du lịch và vui chơi giải trí tổng hợp, vốn tối thiểu 2 tỷ đô la Mỹ, và có những phương án quản lý các tác động tiêu cực của hoạt động kinh doanh casino.
Nhà đầu tư đáp ứng điều kiện cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh casino nếu đã được cấp giấy phép đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư; đã giải ngân ít nhất 50% tổng vốn đầu tư như đã ghi trong giấy phép đầu tư,  Ngoài ra, địa điểm kinh doanh đầu tư phải tách riêng với hoạt động giải trí khác, có người quản lý và có phương án kinh doanh được duyệt.
Nghị định 03/2017/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/3/2017 và không ảnh hưởng tới các doanh nghiệp đã tổ chức hoạt động kinh doanh casino theo các giây phép đã cấp.
Hiện tại casino tại Việt Nam chỉ cho phép người nước ngoài vào chơi, như Casino Đồ Sơn ở Hải Phòng, Casino Hồ Tràm ở Vũng Tàu, Casino Aristo International ở Lào Cai, Casino Silver Shore tại Đà Nẵng, Casino Royal ở Quảng Ninh, và các dự án Casino Hội An, Casino Vân Đồn, và Casino Phú Quốc.
Việc nới lỏng quy định về kinh doanh casino sẽ giúp ngăn dòng tiền người Việt mang sang chơi tại casino các nước láng giềng như Campuchia, Macao, giúp quản lý tốt hơn trật tự xã hội trong vấn đề giải trí nhạy cảm này ở Việt Nam và thu hút du khách nước ngoài.
Thêm nữa, Việt Nam hy vọng sẽ hội nhập quốc tế, thu hút hàng tỷ đô là nguồn đầu tư nước ngoài để duy trì tăng trưởng, đưa du lịch thành ngành mũi nhọn, tuy nhiên, Việt Nam cũng sẽ gặp thách thức quản lý các vấn đề phát sinh như buôn lậu, vận chuyển ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, kim loại quý, rửa tiền và tài trợ khủng bố,

Phân chia tài sản khi ly hôn


Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn được qui định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 và thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSDNTC-BTP sẽ có hiệu lực vào ngày 1/03/2016 hướng dẫn cụ thể trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản khi ly hôn.

Theo đó:
Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:
a) Trường hợp không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn;
b) Trường hợp có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này không bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 59 và các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật hôn nhân và gia đình để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.
Khi giải quyết ly hôn nếu có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu thì Tòa án xem xét, giải quyết đồng thời với yêu cầu chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.
Khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án phải xác định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba mà họ có yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác.
Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:
a) “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.
b) “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.
c) “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.
Ví dụ: Vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng. Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người chồng nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100 triệu đồng.
d) “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.
Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.
Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc.
Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Có thể bạn quan tâm:
Ví dụ: Khi chia nhà ở là tài sản chung và là chỗ ở duy nhất của vợ chồng, trong trường hợp không chia được bằng hiện vật thì Tòa án xem xét và quyết định cho người vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi con chưa thành niên, con bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự nhận hiện vật và thanh toán giá trị tương ứng với phần tài sản được chia cho người chồng hoặc vợ nếu người vợ hoặc chồng có yêu cầu.
Hãy liên hệ công ty luật ANT Lawyers qua hòm thư điện tử luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn.

Thứ Sáu, 2 tháng 6, 2017

Người nước ngoài sở hữu nhà ở Việt Nam


Luật nhà ở 2014 đã được Quốc hội thông qua và bắt đầu có hiệu lực ngày 1/7/2015. Một trong những điểm mới nổi bật nhất của Luật nhà ở 2014 có quy định một chương riêng về quyền sở hữu nhà ở  tại Việt Nam của tổ chức cá nhân nước ngoài tại Việt Nam. Vấn đề này được quy định cụ thể trong chương IX của Luật nhà ở 2014.
1.Đối tượng người nước ngoài (tổ chức, cá nhân nước ngoài) được sở hữu nhà ở tại Việt Nam:
-Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật Nhà ở và văn bản pháp luật liên quan;
-Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức nước ngoài);
-Cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam.
2.Hình thức sở hữu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam
-Đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật Nhà ở và pháp luật có liên quan;
-Mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở. (Trừ các dự án nhà ở thuộc khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ Việt Nam).
3.Điều kiện và quyền, nghĩa vụ của người nước ngoài mua nhà tại Việt Nam
3.1.Đối với cá nhân, tổ chức đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam khi sở hữu nhà tại Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau:
-Có giấy chứng nhận đầu tư
-Có nhà ở được xây dựng trong dự án theo qui định của pháp luật về nhà ở
3.2.Đối với tổ chức nước ngoài là Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam khi mua nhà tại Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau:
-Có Giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ liên quan đến việc được phép hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận đầu tư) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp.
3.3.Đối với cá nhân người nước ngoài mua nhà tại Việt Nam:
-Được phép nhập cảnh vào Việt Nam và không thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy định của pháp luật.
3.4.Đối với tổ chức nước ngoài là Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam và cá nhân người nước ngoài mua nhà tại Việt Nam chỉ được sở hữu nhà khi:
-Chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư; nếu là nhà ở riêng lẻ bao gồm nhà biệt thự, nhà ở liền kề thì trên một khu vực có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá hai trăm năm mươi căn nhà;
-Đối với cá nhân nước ngoài thì được sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong các giao dịch hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho nhận thừa kế nhà ở nhưng tối đa không quá 50 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận và có thể được gia hạn thêm theo quy định của Chính phủ nếu có nhu cầu; thời hạn sở hữu nhà ở phải được ghi rõ trong Giấy chứng nhận;
-Trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì được sở hữu nhà ở ổn định, lâu dài và có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam;
-Đối với tổ chức nước ngoài thì được sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong các giao dịch hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho, nhận thừa kế nhà ở nhưng tối đa không vượt quá thời hạn ghi trong Giấy chứng nhận đầu tư cấp cho tổ chức đó, bao gồm cả thời gian được gia hạn thêm; thời hạn sở hữu nhà ở được tính từ ngày tổ chức được cấp Giấy chứng nhận và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận.
Hãy liên hệ với công ty luật ANT Lawyers để được tư vấn.
Email: luatsu@antlawyers.com hoặc hotline 0987 951 489